Chồng tự ý bán đất đứng tên của mình chồng được không

chong-tu-y-ban-dat-dung-ten-cua-minh-chong-duoc-khongChào Luật sư, tôi có câu hỏi muốn được Luật sư tư vấn như sau: Hai vợ chồng tôi kết hôn năm 1984 (có đăng ký kết hôn), chúng tôi sinh con chung và cùng tạo lập tài sản chung bình thường. Năm 2007 chồng tôi có mua được đất ở Đồng Nai (gồm 4 sổ đỏ) nhưng trên sổ chỉ chồng tôi đứng tên.

Cuối năm 2007, khi đó tôi lo cho con đi học hành nên không biết công việc làm ăn của chồng, chồng tôi hùn mở công ty cổ phần với người khác và đã ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ 4 sổ đất này vào công ty mà tôi không biết. Hiện nay chồng tôi bệnh, công ty cũng bỏ đó không còn hoạt động…sau khi sắp xếp hồ sơ, giấy tờ tôi mới biết được việc chuyển nhượng này.

Tôi đã yêu cầu Phòng công chứng nơi ký hợp đồng hủy bỏ hợp đồng này vì việc ký chuyển nhượng tôi không biết và đồng ý, chuyển nhượng là hình thức chứ không chuyển tiền, các bên chỉ mới làm thủ tục kê khai thuế , sổ đỏ vẫn chưa sang tên công ty và các thành viên trong công ty cũng đồng ý hủy, nhưng phòng Công chứng nói là việc ký đó đúng pháp luật vì chồng bà đã tự cam kết đó là tài sản riêng, và muốn hủy hợp đồng yêu cầu phải có đầy đủ các bản chính của hợp đồng chuyển nhượng,tuy nhiên bản chính hợp đồng đã mất 01 bản vì Công ty đã di chuyển nên thất lạc.

Tôi đã nói với Công chứng viên sẽ cam kết việc mất là có thật và chịu trách nhiệm với việc cam kết này hoặc cớ mất có công an địa phương xác nhận. Tuy nhiên phòng công chứng vẫn cũng không đồng ý hủy. Vậy tôi phải làm sao thưa Luật sư, chẳng lẻ giờ nhà tôi mất toàn bộ khu đất này vì công ty không hoạt động nửa, chồng tôi thì bệnh tật nằm tại chổ.

Tôi xin chân thành cảm ơn văn phòng luật sư giỏi, uy tín đã tư vấn luật giúp tôi!

 

Chào bạn !

TLLAW.VN xin tư vấn pháp luật tốt nhất như sau:

Thời điểm năm 2007 thì Luật hôn nhân gia đình năm 2000 có hiệu lực thực hiện, điều chỉnh giao dịch là tài sản chung của hai vợ chồng như sau:

Điều 27. Tài sản chung của vợ chồng

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.

Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.

Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.

Như vậy, theo như cô nói, mảnh đất trên được thiết lập trong thời kỳ hôn nhân của cô và chồng, tuy đứng tên 1 mình chồng cô nhưng chồng cô không có giấy tờ nào chứng mình đó là tài sản riêng của chồng cô theo quy định tài điều 32 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000:

ĐẤT ĐỨNG TÊN MỘT MÌNH CHỒNG THÌ CHỒNG TỰ Ý KÝ BÁN ĐƯỢC KHÔNG?

Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng.

Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân.

Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung.

Thì đất này là tài sản chung của hai vợ chồng cô.

Mặt khác tại khoản 3 điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng quy định: 3. Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thoả thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này.

Như vậy, việc công chứng viên tự ý cho chồng cô cam kết đó là tài sản riêng và tự ý ký bán đất đứng tên một mình chồng vào công ty là vi phạm các quy định về tài sản chung vợ chồng, ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của cô.

Như vậy, căn cứ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự thì hợp đồng trên đã vô hiệu vì đất là tài sản chung của hai vợ chồng thì khi giao dịch phải có sự bàn bạc, thỏa thuận bằng văn bản có giá trị pháp lý giữa hai vợ chồng, việc chồng cô tự ý ký bán đất

Hiện tại, Phòng Công chứng không chịu ký hủy hợp đồng thì theo tôi có các phương án giải quyết bạn cô có thể tham khảo như sau:

Thứ 1 là chuyển hẳn 04 sổ đất mang tên công ty rồi từ công ty chuyển ngược trờ lại cho cô; nhưng phải có các thành viên của công ty đồng ý và Công ty phải kê khai và đóng thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định tại thông tư 78/2014/TT-BTC là 22% trên tổng số tiền chuyển nhượng và người nhận chuyển nhượng nộp 0,5% lệ phí trước bạ chuyển nhượng.

Số tiề thuế thu nhập doanh nghiệp này khá lớn, và liên quan đến quyết toán tài chính công ty theo các quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và các luật khác liên quan.

Thứ 2 là khởi kiện vụ án tại Tòa án:

Xem xét khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã nơi Phòng công chứng có trụ sở để yêu cầu tòa án giải quyết “tranh chấp liên quan đến tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” theo khoản 9 điều 25 Bộ luật tố tụng dân sự.

Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu (khoản 9 điều 25 Bộ luật tố tụng dân sự) là 02 năm căn cứ vào điểm b khoản 3 điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011; và thời hiệu là 01 năm khi “Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” khi thuộc khoản 6 điều 26 căn cứ vào khoản 4 điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011.

Trường hợp của cô là khởi kiện vụ án dân sự căn cứ theo khoản 9 điều 25 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 nên thời hiệu là 02 năm kể từ ngày cô biết được việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng đó ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cô.

Hồ sơ gồm khởi kiện gồm có:

1.Đơn khởi kiện;

2.Bản sao Hợp đồng chuyển nhượng;

3.Bản sao giấy tờ pháp lý khu đất;

4.Bản sao CMND + hộ khẩu người khởi kiện;

5.Bản sao giấy tờ pháp lý Công ty;

6.Những giấy tờ và người liên quan (nếu có).

Thời gian giải quyết: 04 tháng kể từ ngày thụ lý, nếu vụ án phức tạp, có trở ngại khách quan thì thời hạn có thể được thể gia hạn thêm.

Tòa án sẽ căn cứ vào các quy định pháp luật để xem xét và giải quyết.

Như vậy, cô nên xem xét tất cả các phương án nào là tốt nhất, thuận tiện nhất để thực hiện.

 

Hãy nhấc máy gọi 0394721077 - 0373844485 để được sử dụng dịch vụ tư vấn luật tốt nhất. TLLAW.VN luôn có đội ngũ luật sư giỏi, luật sư uy tín, và có tính chuyên nghiệp, tính quốc tế cao, để được đáp ứng đầy đủ yêu cầu của khách hàng.

 

“ Thành công của khách hàng là thành công của TLLAW.VN ”